Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu nguồn gốc dòng họ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu nguồn gốc dòng họ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Bản dịch Gia phả họ Nguyễn giáp Trù Phúc, thôn Thuận Lạc, xã Trường Mỹ của cố cửu Phương


NGUYỄN TỘC GIA PHẢ

Họ ta từ trước đến nay có tên là Nguyễn Hữu, đến triều Nguyễn niên hiệu Minh Mệnh, hiển tổ khảo giữ chức lý trưởng tên húy vẫn là Nguyễn Hữu nhưng tên tự là Nguyễn Duy. Từ đó trong họ ta, người thì Nguyễn Hữu, người thì Nguyễn Duy “tùy nghi bất nhất”.
(Họ ta ở tại) giáp Trù Phúc, thôn Thuận Lạc, xã Trường Mỹ, tổng Thuần Trung, huyện Lương Sơn, phủ Anh Sơn. Bản gia phả này do Nguyễn tộc thứ tôn Nguyễn Duy Trứ phụng ghi với suy nghĩ: trên thế gian này người ta sinh ra do tổ, nước thì có sử, họ thì có gia phả. Gia phả này ghi chép vào giấy từng khoản một: danh tính, thế thứ, mộ phần, niệm húy kị (kể cả tảo sa, tảo lạc) thật phân minh, rõ ràng để được vĩnh tồn, để con cháu sau này dễ bề khảo đính, chiếu chứng.
(Đời 1). Nguyễn gia thái thủy (thỉ) tổ khảo tỉ thần vị.
          (阮家太始祖考妣神位)
(Đời 2). Tiên tổ khảo Nguyễn quý công tự “ông Thiên” phủ quân
          (先祖考阮貴公公字翁千府君)
Tiên tổ tỉ Nguyễn chính thất hiệu “bà Thiên” nhũ nhân.
(先祖姒阮正室字婆千孺人)
(Đời 3). Tiên tổ Nguyễn Quý Công hiệu “Ông Thu – bà Thu”,
(先祖姒阮阮貴公號翁秋婆秋)
Kỵ ngày 6 tháng 6.
(Đời 4). Tiên tổ tiền bản phủ, Hiệu sinh, Sinh đồ Nguyễn Quý Công tự Thiện tính tiên sinh
(先祖前本府校生生徒阮貴公字善性仙生)
          Ngày 20 tháng 8 cả họ ta cùng làm giỗ.
Tiên tổ Tiền bản phủ hiệu sinh sinh đồ Nguyễn Chính thất nhũ nhân, tự Từ Trinh.
(Đời 5). Tiên tổ Tiền lưu quận Nguyễn Quý Công tự Hữu Nham phủ quân.
          (先祖前留郡阮貴公字有岩府君)
Tổ tỉ Nguyễn chính thất nhũ nhân.
(Đời 6). Tiên tổ tiền chấp khoán kiêm hương lão húy Hữu Thọ thụy Duy Trường phủ quân.
          (先祖前執券兼鄉老諱有壽謚幃長府君)
Lễ kị ngày 6 tháng 9.
Tiên tổ tỷ tiền chấp khoan kiêm hương lão Hoàng thị hạng nhị hiệu Từ Thuận nhũ nhân.
          Kỵ ngày 4 tháng 2.
(Đời 7). Tiên tổ Tiền chấp khoán kiêm hương lão Nguyễn Quý Công húy Hữu Hân, thụy Tư Trực Chân Tính phủ quân.
          (先祖前執券兼鄉老阮貴公諱有欣謚貲直真性府君)
          Tiên tổ khảo hưởng thọ 74 tuổi, kị ngày 6 tháng 8.
Tiên tổ Tỉ Tiền Chấp khoán kiêm hương lão Nguyễn Chính Thất Trần Thị hạng nhị húy Thị Dờu, thụy Từ Nhân nhũ nhân.
          Thọ 49 tuổi, kị ngày 9 tháng 10.
(Đời 8). Cao Cao tổ khảo Tiền lưu quận kiêm Hương trung kỳ lão Nguyễn Quý Công tự Hữu Dương,thụy Đôn Phác Thận Trực phủ quân.
          (高高祖考前留郡兼鄉中耆老阮貴公字有楊謚敦撲慎直府君)
          Kỵ ngày 13 tháng 7. Mộ tại nghĩa trang dòng họ.
Cao cao tổ tỉ Tiền lưu quận kiêm Hương trung kỳ lão Nguyễn Chính Thất Trần Thị hạng nhất húy Thị Sính, hiệu Từ Phối nhũ nhân.
Lễ kị ngày 25 tháng 10, mộ đã cát táng về nghĩa trang họ.
Cao cao tổ sinh hạ: Con trai là Nguyễn Hữu Thành tức là Cao tổ khảo, con gái 5 người: Nguyễn Thị Biểu, Nguyễn Thị Tần, Nguyễn Thị Tại, Nguyễn Thị Viên, Nguyễn Thị Bàn.
(Đời 9). Cao tổ khảo Tiền thập lý hầu Nguyễn (linh) Công húy Hữu Thoại, tự Hữu Giản Thành thụy Liêm trực phủ quân chi Linh.
          (高祖考阮令公諱有話字有減成謚廉直府君之靈).
          Kỵ ngày 14 tháng 8 kiêm giỗ anh Nguyễn Hữ Huynh, mộ đã cát táng tại nghĩa trang dòng họ.
(Cao tổ tỉ cải giá lấy người họ Nguyễn Văn trong thôn, có con là Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Tài, bà mất ngày 5 tháng 11).
Cao tổ khảo sinh hạ: Nguyễn Hữu Ngoạn tức là Hiển tằng tổ khảo, còn người con gái là Nguyễn Thị Do gả người trong thôn.

(Đời 10). Hiển tằng tổ khảo tiền thập lí hầu kiêm trùm ấp vị hương nguyên tức bản xã lý trưởng khâm mông ân tứ lão nhiêu Nguyễn Quý công húy Hữu Ngoạn, tự Duy Nghĩa, thụy Thuần Mỹ phủ quân chi linh.
Hiển tằng tổ khảo sinh năm Nhâm Tý (1792), thọ 72 tuổi, mất năm Quý Hợi (1863).
Mất ngày 14 tháng 10. Mộ đã cát táng và quy tập vào nghĩa trang dòng tộc.
Hiển tằng tổ tỉ thập lý hầu kiêm trùm ấp vị hương nguyên tức bản xã lý trưởng khâm mông ân tứ lão nhiêu Nguyễn Chính Thất Nguyễn Thị hạng nhất hiệu Từ Ôn Tự Phúc nhũ nhân chi linh.
Tằng tổ tỉ sinh năm Tân Hợi (1791), là con gái của Hiệu sinh đồ họ Nguyễn trong làng. Tằng tổ tỉ hưởng thọ trên 60 tuổi.
          Mất ngày 21 tháng 5. Mộ tại nghĩa trang dòng họ.
Tằng tổ khảo tỉ sinh hạ:
- Trưởng nam: Nguyễn Hữu Lễ, tự Duy Chỉ: là hiển khảo (ông nội – tức là ông nội của cố cửu Phương – ND).
- Con gái: Nguyễn Thị Nhưng, chỉ sinh con gái là Nguyễn Thị Hảo.
- Con trai: Nguyễn Hữu Đởn, tự là Duy Đoan.
Hiển khảo Nguyễn Duy Đoan sinh hạ: Nguyễn Duy Thượng, Nguyễn Duy Thiệm, Nguyễn Duy Vượng,
- Con gái Nguyễn Thị Nhuần gả cho người trong thôn là tri xã Trần Doãn Mông sinh hạ Trần Quang Dưỡng, Trần Quang Phiên.
- Con trai: Nguyễn Hữu Nhỡn, tự Duy Năng, sinh hạ con trai là Nguyễn Duy Lực, Nguyễn Duy Bài, Nguyễn Duy Tịch; vợ là Nguyễn Thị Nghi người trong thôn.
- Con gái: Nguyễn Thị Giản Luyện (Nguyễn Thị Dớn), gả cho người trong thôn là trùm xã kiêm trùm ấp Đinh Văn Nhân, sinh con Đinh Văn Đôn.
- Con trai Nguyễn Hữu Giá, tử trận.
- Con gái: Nguyễn Thị Giám gả người trong thôn là sinh đồ Nguyễn Trí Thái, sinh con trai là Nguyễn Văn Thuận.
- Con trai út: Nguyễn Hữu Giảng, sinh con trai là Nguyễn Duy Luận, Nguyễn Duy Bình; vợ là Đinh Thị Thắng.
(Đời 11). Hiển tằng tổ khảo tiền thập lý hầu kiêm Bản xã tư văn, bản xã tri xã, thăng thụ tổng hào niên tấn giới thọ kỳ lão Nguyễn Quý Công húy Hữu Lễ, thụy Kỳ Hậu phủ quân chi Linh.
Hiển tằng tổ khảo hưởng thọ 71 tuổi, mất trưa ngày 27 tháng 12. Mộ hiện đã cát táng trong khuôn viên nghĩa trang họ Nguyễn.
Hiển tằng tổ tỷ tiền Thập lý hầu kiêm bản xã tư văn, bản xã tri xã thăng tổng thụ hào niên tấn giới thọ kỳ lão, Nguyễn môn chính thất Nguyễn Thị hạng nhất húy Thị Cẩm, hiệu Từ Thục nhũ nhân chi linh. Hiển tằng tổ tỷ hưởng thọ 70 tuổi.
Tằng tổ tỉ mất ngày 26 tháng 12 năm Tân Tỵ (1881).
Hiển tổ khảo tỷ sinh hạ:
- Con gái: Nguyễn Thị Điểm gả cho người trong làng là bản tổng sinh đồ Trần Doãn Trạch, sinh hạ con trai là Trần Doãn Nguyên.
- Trưởng nam: Nguyễn Duy Tước, tứ hiển khảo (tức là cha của người viết – cố cửu Phương – ND).
Mất ngày 18 tháng Giêng.
- Con gái: Nguyễn Thị Cẩm gả cho ông Nguyễn Văn Trị, làm phó lý người Phượng Kỷ, sinh con là Nguyễn Văn Hào, Nguyễn Văn Phú.
- Con trai: Nguyễn Duy Cáp, lấy vợ trong làng là Đinh Thị Lý, sinh con trai là Nguyễn Duy Choai, Nguyễn Duy Ngoại, Nguyễn Duy Côn, Nguyễn  Duy Phan, Nguyễn Duy Tồn, con gái Nguyễn Thị Bản, Nguyễn Thị Yêm.
- Con gái: Nguyễn Thị Diệm, gả cho ông Trần Doãn Hoàn người trong thôn sinh con là Trần Doãn Ánh, Trần Doãn Tình.
- Con gái út: Nguyễn Thị Kiểm, mất sớm.
(Đời 12). Hiển khảo tiền thí sinh thăng thụ bản tổng tổng hiệu, bản xã cai xã, bản thôn tư văn sĩ hội hội trưởng, tề hương lão ưu bàn Nguyễn Quý Công húy Duy Tước, tự Lương Quý, thụy Thuần Chinh phủ quân chi linh.
Hiển khảo sinh năm Giáp Thìn (1844), hưởng thọ 65 tuổi, mất ngày 18 tháng Giêng năm Mậu Thân (1908).
Hiển tỷ tiền thí sinh thăng thụ bản tổng tổng hiệu, bản xã cai xã, bản thôn tư văn sĩ hội hội trưởng, tề hương lão ưu bàn Nguyễn chính thất Đinh thị hạng tứ hiệu Khiết Thận nhũ nhân chi Linh.
Hiển tỷ sinh năm Tân Mão (1831), hưởng thọ 85 tuổi, húy Thị Quý, mất giờ Tuất, ngày 27 tháng 8.
          Mộ tại nghĩa trang dòng tộc.
Hiển khảo tỉ sinh hạ:
- Trưởng nam Nguyễn Duy Quỹ, vợ đầu là Nguyễn Thị Nhàn, người làng Trùng Quang sinh hạ 2 gái là Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Trục, bà mất sớm. Vợ kế là người Văn Tràng, sinh con trai là Nguyễn Duy Xin, tức là cháu nối dòng vậy.
- Con trai: Nguyễn Duy Huệ, vợ đầu là Đặng Thị Đích, người trong thôn, mất sớm. Vợ kế là Nguyễn Thị Cầu người làng Trung Hậu, sinh hạ: Nguyễn Duy Mân, Nguyễn Duy Đạt, Nguyễn Duy Nhựu; con gái là Nguyễn Thị Song, Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thị Đoan.
- Con gái: Nguyễn Thị Thự, lấy chồng là ông cửu phẩm Đặng Quang Sính, sinh hạ con là Đặng Quang Đam, Đặng Quang Cảnh.
- Con gái: Nguyễn Thị Sơ, lấy chồng người trong làng là Trần Đình Phát.
- Con trai: Nguyễn Duy Tự, lấy vợ là Nguyễn Thị Lai người làng Trùng Quang, sinh hạ Nguyễn Duy Diên, Nguyễn Duy Biên, con gái là Nguyễn Thị Mơn (mất sớm), Nguyễn Thị Thơn, Nguyễn Thị Phớc và Nguyễn Thị Em.
- Con trai: Nguyễn Duy Trự, lấy vợ là Đặng Thị Đích người trong thôn sinh hạ: Nguyễn Duy Tuân, Nguyễn Duy Phổ, Nguyễn Duy Vận; con gái là Nguyễn Thị Vởn, Nguyễn Thị Viễn, Nguyễn Thị Hườn.
- Con gái: Nguyễn Thị Nhự, gả cho ông Hoàng Đăng Đường người trong thôn, sinh hạ con trai là Hoàng Đăng Mi.

- Con út: Nguyễn Duy Trứ (người viết bản gia phả này), lấy vợ đầu là Trần Thị Thụ người trong thôn sinh hai con trai, bà kế là Nguyễn Thị My người trong thôn sinh hạ 4 trai, 1 gái. 

Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013

Dịch gia phả chữ Hán họ Nguyễn Duy Đại tôn (Trù Phúc giáp, Thuận Lạc thôn)

Gia phả do cố Cửu Tiến (Nguyễn Duy Trứ soạn), tôi đang dịch dần dần vì công việc bận quá. Hôm nay chỉ xin đưa lên phần dịch nghĩa (comment dưới từng ảnh), khi có thời gian tôi sẽ dịch cụ thể, đánh máy cả phần phiên âm, dịch và chú giải.

NGUYỄN TỘC GIA PHẢ (Gia phả họ Nguyễn)
Họ ta từ cổ đến nay tên là Nguyễn Hữu. Đến đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, hiển tổ khảo giữ chức Lý trưởng tên húy vẫn là Nguyễn Hữu nhưng tự là Nguyễn Duy. Từ đó trong họ ta người thì Nguyễn Hữu, người thì Nguyễn Duy tùy nghi bất nhất.

Họ ta cư ngụ tại Anh Sơn phủ, Lương Sơn huyện, Thuần Trung tổng, Trường Mỹ xã, Thuận Lạc thôn, Trù Phúc giáp. Bản gia phả này do Nguyễn tộc thứ tôn Nguyễn Duy Trứ phụng ghi với suy nghĩ: Trên thế gian này con người sinh ra do tổ, nước thì có sử, họ thì có gia phả. Gia phả phải ghi chép vào giấy từng khoản một: danhh tính, thế thứ, mộ phần, niệm húy kị (kể cả tảo sa, tảo lạc) thật phân minh, rõ ràng để được vĩnh tồn, để sau này con cháu dễ bề khảo đính chiếu chứng.

Nguyễn gia thái thủy tổ khảo tỷ thần vị

Tiền tổ khảo Nguyễn quý công tự "Ông Thiên" phủ quân

Tiền tổ tỉ Nguyễn chính thất hiệu "Bà Thiên" nhũ nhân.

Tiên tổ Nguyễn quý công hiệu "Ông Thu bà Thu"
Lế kỵ ngày 6 tháng 6.

Tiên tổ khảo tiền bản phủ hiệu sinh sinh đồ Nguyễn quý công tên tự là Thiện tính tiên sinh
Lễ kỵ ngày 20 tháng 8 cả họ ta cúng giỗ.

Tiên tổ tỷ tiền bản phủ hiệu sinh sinh đồ Nguyễn chính thất, tên hiệu "Từ Trinh" nhũ nhân.

Tiên tổ tiền lưu quận Nguyễn Quý công tư Hữu Nham phủ quân
Tiên tổ tỷ Nguyễn chính thất Nhũ nhân.

Tiên tổ tiền chấp khóan kiêm hương lão húy Hữu Thọ thụy Duy Trường phủ quân
Kỵ ngày 6 tháng 9.











Phụng dịch: Hậu dụê Nguyễn Duy Đăng.

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Các họ tên NGUYỄN DUY tỉnh Nghệ An


Tôi sẽ viết bài này, vì công việc quá bận, hơn nữa chưa có thời gian khảo cứu cụ thể, nên sẽ chỉnh sửa, hoàn thiện dần.

Mục đích của tôi khi viết bài này là kết nối các dòng họ Nguyễn Duy của Nghệ An lại (nếu có thể), bằng không cũng là thêm thông tin cho mọi người cùng tham khảo.

Thứ tự tôi xếp theo danh mục các huyện. 

1. Anh Sơn

- Họ Nguyễn Duy ở xã Đức Sơn, có nguồn gốc từ họ Nguyễn Duy xã Lạc Sơn, huyện Đô Lương. Di dân lên vùng Đức Sơn khoảng nửa cuối thế kỷ XIX.


2. Huyện Con Cuông


3. Huyện Diễn Châu


4. Huyện Đô Lương

- Họ Nguyễn Duy ở xã Lạc Sơn: Gồm có 2 chi trong xã: chi trưởng tại thôn Trù Phúc, chi thứ tại thôn Khải Sơn (chính là dòng họ chủ blog này). Một số nhánh di dân đến các vùng: Thanh Chương, Anh Sơn, hiện nay con cháu ở khắp đất nước và định cư ở nước ngoài như Đức, Nga.

- Họ Nguyễn Duy ở xã Thái Sơn. Có ông Nguyễn Duy Nhu nguyên là Phó Giám đốc sở Tài nguyên và Môi trường. 

- Họ Nguyễn Duy ở xã Nhân Sơn. Có thầy Nguyễn Duy Mai trước làm Hiệu trưởng trường THPT Đô Lương 3, 1. 

- Họ Nguyễn Duy ở xã Nam Sơn.


5. Huyện Hưng Nguyên




6. Huyện Kỳ Sơn

7. Huyện Nam Đàn


8. Huyện Nghi Lộc

- Họ Nguyễn Duy ở xã Nghi Thọ, có ông Nguyễn Duy Trinh là nhà ngoại giao nổi tiếng, làm đến Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Truyền rằng là dòng dõi của Nguyễn Trãi.

- Họ Nguyễn Duy ở xã Nghi Công.


9. Huyện Nghĩa Đàn


10. Huyện Quế Phong


11. Huyện Quỳ Hợp


12. Huyện Quỳnh Lưu

- Họ Nguyễn Duy ở Quỳnh Xuân. Thủy tổ là Nguyễn Phúc Nguyên.

- Họ Nguyễn Duy ở làng Cần (Cờn), xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, sau di cư một phần vào Thừa Thiên Huế (làng Hương Cần, huyện Hương Trà), nay có một số con cháu định cư ở Hoa Kỳ.

13. Huyện Quỳ Châu


14. Huyện Tương Dương


15. Huyện Thanh Chương

- Họ Nguyễn Duy ở Thanh Phong, Thanh Chương, là cơ sở hoạt động của Đảng Cộng sản, được công nhận Di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Thông tin ở đây.

- Họ Nguyễn Duy ở Thanh Chi, Thanh Chương.

- Họ Nguyễn Duy ở Thanh Lương, Thanh Chương. Có GS. VS Nguyễn Duy Quý nguyên là Viện trưởng Viện khoa học xã hội Việt Nam.

- Họ Nguyễn Duy ở Cát Văn, Thanh Chương, có thờ một vị tướng quân là Nguyễn Đăng Khiêm.

16. Huyện Tân Kỳ

- Họ Nguyễn Duy ở xứ Kẻ Trang, Tân Xuân, Tân Kỳ. Truyền rằng do ông họ Nguyễn Duy ở Yên Phú, Văn Thành, Yên Thành di dân lên, nay nhập vào dân tộc Thổ.


17. Huyện Yên Thành

- Họ Nguyễn Duy ở Bắc Thành: thủy tổ là Nguyễn Duy Thiện (gốc làng Chi Nê, nay là Thanh Chi, Thanh Chương). Xem thêm thông tin.

- Họ Nguyễn Duy ở Văn Thành, truyền rằng là hậu duệ của Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Nguyễn Quang Thiện (quê ở Triều Khẩu, nay là Hưng Khánh, Hưng Nguyên).




18. Thành phố Vinh


19. Thị xã Thái Hòa

20. Thị xã Cửa Lò


Phụ chú: Họ Nguyễn Duy ở Hà Tĩnh

- Họ Nguyễn Duy ở thị trấn Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh.
- Họ Nguyễn Duy ở Hương Long, Hương Khê.
- Họ Nguyễn Duy ở Kim Chùy, Tân Lộc, Lộc Hà, Hà Tĩnh. Trong làng này còn có họ Nguyễn Doãn, tương truyền là hậu duệ của Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Nguyễn Quang Thiện, người Triều Khẩu, Hưng Nguyên.
- Họ Nguyễn Duy ở Thiên Cầm, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.


Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Gia phả họ Nguyễn Duy - Văn Thành không ghi ông Nguyễn Văn Đương đến Truông Cồn Đọi

Qua trao đổi với ông Nguyễn Văn Mậu (số điện thoại: 04.33546229), địa chỉ ở khu đô thị Văn Quán, quận Hà Đông, Hà Nội tôi được biết thông tin quan trọng: 

TRONG GIA PHẢ GHI NĂM 1923 CỦA HỌ NGUYỄN DUY Ở YÊN PHÚ, VĂN THÀNH KHÔNG GHI VỀ ÔNG CON TRAI THỨ BA CỦA NGUYỄN VĂN THỊNH LÀ NGUYỄN VĂN ĐƯƠNG ĐẾN TRUÔNG CỒN ĐỌI.


Ông Mậu cho biết như vậy và giải thích rằng, sau khi họ Nguyễn Duy ở Lạc Sơn ra Văn Thành nhận họ thì ở ngoài Văn Thành mới ghi như vậy.

Đây là thông tin quan trọng, chúng tôi sẽ thu thập bản chữ Hán của gia phả họ Nguyễn Duy Văn Thành và thông báo cho anh em được biết.

Số điện thoại để liên lạc, tham khảo thông tin:

Ông Nguyễn Văn Mậu: ĐT 04.33546229
- Ông Nguyễn Trí Tuệ, khối 7 phường Hà Huy Tập, điện thoại: 0903453567

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Phản biện một số ý kiến trong các Tư liệu về nguồn gốc dòng họ

Vừa qua, tôi có tiếp cận một số nguồn tư liệu của các vị trong và ngoài dòng họ, nhân dây tôi xin trích dẫn và phản biện vài điều/

1. Tư liệu của ông Nguyễn Duy Hiểu, cán bộ về hưu ở phường Đội Cung, thành phố Vinh trong cuốn "Ký yếu (lần 3) - Tìm hiểu thêm về lịch sử dòng họ", ngày 30 tháng 4 năm 2011.

Chúng tôi trích lược Phần VII và VII vì liên quan nhất đến họ Nguyễn Duy Lạc Sơn

Các phần của cuốn Ký yếu như sau:
Phần I: Sơ yếu lịch sử Việt Nam,
Phần II: Thanh Hoá.
Phần III: Thọ Xuân.
Phần IV: Một số nhận định về cụ tổ Nguyễn Quang Thiện.
Phần V: Làng Phúc Điền, Mỹ Dụ đến Triều Khẩu, Hưng Nguyên.
Phần VI: Làng Đông Xoang, Yên Phú (Văn Thành)
Phần VII: Cụ tổ Nguyễn Văn Đương về làng Trù Phúc, Lạc Sơn.
Phần VIII: Họ Nguyễn Duy ở Đức Sơn, họ Nguyễn Hoàng ở Cát Văn.

Xin trích đăng một phần như sau:

PHẦN VII: CỤ TỔ NGUYỄN VĂN ĐƯƠNG VỀ LÀNG TRÙ PHÚC, LẠC SƠN
Phải nói cảm ơn gia phả năm 1844 và lí lịch sắc phong của chi họ Văn Thành còn lưu giữ. Gia phả Lạc Sơn bằng chữ nho làm lại năm thứ 7. Khi cô Thanh 1780 về nuôi cháu còn nhỏ dại, hướng dẫn cháu khi ấy làm lý trưởng viết lại gia phả, do đó có chỗ vẫn không nhớ hết. Cụ tổ Lạc Sơn có lúc còn gọi là ppng Thiên – bà Thu; theo gia phả Văn Thành là cụ Đương về Truông Cồn Đọi chi xứ. Lớn lên từ năm 1950-1960 tôi đều được nghe truyền khẩu: họ Nguyễn Duy Lạc Sơn có gốc Yên Thành và từ Thanh Hoá vào. Năm 1960, bác Nguyễn Duy Ân làm hội trưởng Đông y Đô Lương theo gia phả Văn Thành đã đi nhiều lần thực địa ở xứ Lạc Sơn, Đà Sơn. Theo các cụ kể lại: Truông Cồn Đọi  có 9 đỉnh ở Lạc Sơn và Đà Sơn. Lớn lên tôi thấy rằng thời 1955-1975 trên 9 đỉnh đó chỉ có 2-3 đỉnh có người ở: Trù Phúc, Trùng Quang và 1 số ít ở Đà Sơn (trường cấp 3 cũ), còn lại nhiều đỉnh là không có nhà ở: Bệnh viện, đoạn 5 rú Trang, trường chuyên cũ, trường chuyên mới, trường cấp 3 hiện tại (rú Kiêng).
            Đoạn chính của truông từ trường cấp 3 hiện nay đến phố mới. Hồi học cấp 2 chúng tôi đi qua ruộng Cồn Đọi, thấy vắng phải chạy nhanh. Bác Ân lần họ Nguyễn Hữu Đà Sơn: không có dấu tích từ Yên Thành, lệch đời. Đến Nguyễn Hữu ở Trùng Quang (Lạc Sơn): chỉ 10 hộ, lệc 5-7 đời và không có dấu tích gì ghi lại. Cụ Ân đến nhà bác Đạt (tức Tiêu) trò chuyện, vốn 2 ông thông nho và biết nhiều việc, đã nhận họ và mời bác Ân 13/10 hàng năm âm lịch vào giỗ họ ở Lạc Sơn. Năm 1960, trong một lần tập huấn chăn nuôi cá ở nhà thờ Văn Thành, cụ Đạt đã trao đổi với anh con bác tộc trưởng Nguyễn Duy Cán. Hai an hem chở nhau bằng xe đạp ra Văn Thành để nhận họ. Chiến tranh nổ ra ai cũng lo cho cuộc sống và tính mạng để đến năm 2001 con cháu mới có dịp ra lại, và từ đó nhận lại họ hang, đi lại nhiều trong các ngày giỗ, tết: 21 tháng 2 và 13 tháng 10. Như vậy việc nhận họ ở Văn Thành là có cơ sở của hai bên. Năm 1957 tôi hay đi bừa ở ruộng cố Đương đó cũng là một căn cứ. Sau khi vào HTX, đội ruộng được chia lại, cái tên ruộng Cố Đương dần dần ít nhắc đến.
Chi họ Nguyễn Duy, Lạc Sơn đi Đức Sơn, Thanh Cát có trong gia phả cũng được dịch ra tiếng Việt, điều đó là khằng định.
Bác Nguyễn Hữu Mân học rộng có vào Huế học. 1930 hoạt động nên được Trung ương tặng Huân chương độc lập hạng 3, người có công thành lập tổ chức ở xứ Văn Tràng năm 1930 còn được ghi vào lịch sử huyện, tỉnh. Đánh giá về quá trình Lạc Sơn tu sửa khuôn viên nhà thờ và lăng mộ:
+ Nhà thờ tri sự Nguyễn Thoan (tức Nguyễn Hữu Thiện):
1702: làm nhà thờ lợp tranh.
1903 làm nhà ngói 3 gian nay là thượng điện,
1986 làm lại nhà hạ điện.
+ Về lăng mộ theo trí nhớ và bày chỉ của bác Nguyễn Duy Đạt, năm 1975 xây nghĩa trang đại tôn tại đồi Cảnh Minh Lạc Sơn. Năm 2007 anh Nguyễn Duy Đào viết kĩ chi trưởng và đề năm dương lịch theo lịch vạn niên ở gia phả. Năm 2004, tu bổ khuôn viên và nghĩa trang, cổng họ ngày một khang trang. Có sự đóng góp của các cháu Tuấn con chú Mai, nhiều cháu khác đi xa như Tú, Kỳ, Giang.
Quá trình tìm lại họ ở Văn Thành còn có cơ sở bởi theo truyền khẩu, bản gia phả đầu bị cháy, còn bản chữ nho năm 1780 còn lưu lại được dịch ra tiếng Việt ở ông thông gia nhà anh Tiếu năm 2002 ở Thanh Hoá. Theo gia phả họ Nguyễn Duy Văn Thành, theo sự khoanh vùng Truông Cồn Đọi và vài họ Nguyễn Hữu ở Đà Sơn và Lạc Sơn, còn theo sự di truyền tư chất mà ít ai soi xét được, ngoài ra còn có đội ruộng cố Đương, tên lót thống nhất từ Hữu sang Duy khi các cụ tổ Đô Lương còn hay đi về quê cha ở Văn Thành đầu thế kỉ XVIII, theo chúng tôi họ Nguyễn Duy ở Văn Thành và Lạc Sơn là một, có cơ sở. Trong quá trình xây dựng nhà thờ, nghĩa trang, đi tìm họ còn phải đánh giá nhiều người có công: bác Đạt làm lăng, nghĩa trang họ, đọc văn tế ngày giỗ họ và lớn hơn là bày cho con cháy cúng đơm lễ tết, có công ra Văn Thành tìm họ, chắp nối 2 xứ, có sự phân tích nguồn gốc họ. Ngoài ra còn có anh Tiếu con cụ Hữu Mân, chú Cảnh, chú Địch… đã viết lại gia phả đầy đủ hơn. Việc làm ân nghĩa, uống nước nhớ nguồn có phúc đức cho con cháu về sau không thể ghi hết được.
Đến đời cụ tổ Nguyễn Hữu Hợi về Khải Sơn năm 1741, chi họ Khải Sơn cũng đã phát triển và có nhiều đóng góp, hay đi lại với Trù Phúc cúng tế, khuôn viên, nhà thờ, nghĩa trang tu bổ ngày càng đẹp ra.

PHẦN VIII: HỌ NGUYỄN DUY Ở ĐỨC SƠN, HỌ NGUYỄN HOÀNG Ở CÁT VĂN
1. Họ Nguyễn Duy ở Đức Sơn bắt đầu từ can Nguyễn Duy Ngươu từ năm 1840. Có khoảng 20 hộ, làm ăn tốt, hay về giỗ tế ở Lạc Sơn. Không có gì mắc mớ chuyện “chiếc chiêng vỡ”.
2. Họ Nguyễn Hoàng: theo anh Châu đã đổi tên lót là Nguyễn Hoàng do cụ Nguyễn Duy Tịch đi khoảng 1840.

LỜI BÀN:

Gia phả gốc của họ ta bằng chữ Hán, được Tổ cô Thanh đọc cho cháu là Nguyễn Hữu Nghĩa ghi lại vào đầu thế kỉ XIX chỉ nhớ tên từ đời 2, đức Thủy tổ không nhớ tên và ghi lại thành "Ông Thiên, Bà Thu".
Một số ý kiến của chú Duy Hiểu, xin trao đổi như sau:
* Truông Cồn Đọi, ngày nay được biết đến là vùng xóm 11, 12 xã Đà Sơn (vùng cấp 3 Đô Lương 1), theo tôi được biết không mấy liên quan đến vùng Đàu Sài, Trù Phúc ta.
Truông là vùng đất hoang, nhiều cây cỏ, ít người. Còn vùng Đàu Sài chúng ta đã có người ở lâu rồi, không thể gọi là Truông được.
Hơn nữa, theo lịch sử của dòng họ Nguyễn Duy Văn Thành, ông Nguyễn Văn Đương là cháu nhiều đời của ông Nguyễn Quang Thiện, nếu có đến Lạc Sơn chúng ta cũng khoảng những năm 1730-1740, mà khi đó, đối chiếu lịch sử họ ta đã đến đời Tổ Nguyễn Hữu Thoại rồi.


2. Tài liệu của ông Nguyễn Duy Phổ, tộc trưởng họ Văn Thành được ghi trong "Lời nói đầu" của cuốn Gia phả họ Nguyễn Duy Văn Thành năm 2000.
Tài liệu này được đính kèm trong phần Phụ lục của cuốn Ký yếu của chú Nguyễn Duy Hiểu viết năm 2011 như đã trình bày ở trên.

3. Tái bút (ghi trong Ký yếu của Nguyễn Duy Hiểu)


Phần tái bút này chủ yếu giải thích về niên đại một số đời không thoả mãn, đã tranh luận trong thời gian gần đây.

Luận cứ cho chi 12 Lạc Sơn có nguồn gốc ở Văn Thành là:
- Sự tích Truông Cồn Đọi do gia phả Văn Thành viết lại (1844), do cụ Nguyễn Duy Ân đông y Đô Lương, người chi Văn Thành tìm cả xứ Lạc, Đà đã phân loại, dùng biện pháp loại trừ và quan trọng là đến đời tôi (tức Nguyễn Duy Hiểu)- tộc trưởng là Nguyễn Duy Mận con cụ Cán là 13, 14 đời kể từ cụ Tổ Nguyễn Văn Thịnh ở Văn Thành, là trùng 14 đời với Văn Thành và 17 đời với Nguyễn Quang Thiện. Đó là 1 cơ sở tốt.
- Năm 1960, cụ Nguyễn Duy Đạt (cụ Tiêu) và cụ Cán 2 anh em chở nhau bằng xe đạp ra Văn Thành nhận họ là có cơ sở đáng tin (đã ghi ở gia phả Văn Thành năm 2000).
- Lí do xác đáng nhất: năm 2002, anh Nguyễn Duy Tiếu khi hoàn thành gia phả Nguyễn Duy Lạc sơn có nói lại: họ Văn Thành viết năm 1844 cho họ Lạc Sơn 4 đời. Đến ngày giỗ 13-10, tôi (Nguyễn Duy Hiểu) kiểm tra lại thông tin với chú Nguyễn Duy Cảnh, người tham gia viết gia phả Lạc Sơn năm 2001 có nói: lúc đó ta chưa chắp nối với Văn Thành, việc gia phả Văn Thành viết là Khách quan, trùng 4 đời đầu với gia phả Lạc Sơn. Chỉ có điều là ở đời thứ 7 tên cụ Nguyễn Duy Đương (Văn Đương) họ Lạc Sơn ta không viết vào gia phả chữ Nôm mà gọi ông bà tổ này là "Ông Thiên bà Thu" cho dễ bề cúng tế. Còn mộ cụ Đương do không nhớ tên (do cô Thanh độc lại), song mộ hãy còn. Cụ Nguyễn Duy Đạt còn nhớ và chỉ cho con cháu. 
Tóm lại là gia phả Văn Thành và Lạc Sơn viết ở đời 5 và đời 7: thì 4 đời đầu Lạc Sơn được gia phả Văn Thành viết khách quan năm 1844 và trùng với gia phả Lạc Sơn viết năm 1780.
Hai gia phả chữ Nôm 2 nơi, viết không dựa vào nhau mà trùng 4 đời đầu cho chi 12 Lạc Sơn, do đó là cơ sở duy nhất có căn cứ lịch sử, để có cơ sở hai nơi Văn Thành, Lạc Sơn nhận anh em, tôi cho là đúng nhất, không băn khoăn và tôi đã kiểm chứng thông tin.

LỜI BÀN CỦA NGƯỜI SOẠN BLOG:
Về 3 căn cứ của ông Nguyễn Duy Hiểu đã nêu, tôi xin có một số bàn luận sau:
1. Về tên gọi vùng đất Cồn Đọi
Như đã nói ở bài "Những luận điểm phản bác..." không thể vin vào căn cứ của họ Nguyễn Duy Văn Thành là người thứ 3 Nguyễn Văn Đương vào "Truông cồn Đọi chi xứ" để nói họ Nguyễn Duy Lạc Sơn được, có thể một họ khác, hoặc họ từng đến đây nhưng đã di chuyển.
Ngày trước ở vùng làng Vành cũng có 1 làng, tên tự là Giáp Vinh, có chùa Vành còn lại đến ngày nay, nhưng biến thiên của lịch sử, họ chuyển đi đến vùng nào đến nay không ai hay biết. Không thể dựa vào căn cứ địa điểm Truông cồn Đọi mà nói có gốc Văn Thành. Hơn nữa, ông Nguyễn Văn Đương có thể con cháu sau này không mang danh Nguyễn Hữu, Nguyễn Duy mà mãi mãi là Nguyễn Văn thì sao? Họ Nguyễn Văn ở Truông Cồn Đọi cũng có nhiều họ lớn, khoảng hơn 10 đời như họ Nguyễn Văn của bác Nguyễn Văn Phan làm tộc trưởng ở thôn Trù Phúc chúng ta. Luận điểm này không chắc chắn.
Thực ra, gia phả họ Nguyễn Duy ở Văn Thành, bản chữ Hán sao lại dưới triều Bảo Đại không hề nói đến chi tiết NGUYỄN VĂN ĐƯƠNG ĐẾN TRUÔNG CỒN ĐỌI. Điều này tôi đã trao đổi cùng ông Nguyễn Văn Mậu, người viết gia phả họ Nguyễn Duy ở Văn Thành.
Nói rằng có ruộng cố Đương cũng không chính xác, thông tin này võ đoán, cần phải tìm hiểu thêm.
2. Nói năm 1960, ông Cán ông Đạt có đi nhận họ.
Vấn đề này đã trao đổi với con, cháu của ông Nguyễn Duy Đạt thì cho thấy: Năm 1960, khi làm cán bộ Nông nghiệp của xã, ông Nguyễn Duy Đạt có cơ hội đi nhiều, có đến không chỉ Văn Thành mà còn đến họ Nguyễn Duy ở Thanh Chi (Thanh Chương), Thanh Phong (Thanh Chương), Hưng Dũng (Vinh)... những họ này cũng có truyền thống khoa bảng lâu đời, là hậu duệ của Ức Trai Nguyễn Trãi - quan Nhập nội Hành khiển khai quốc công thần Lê triều, có ông Nguyễn Duy Trinh nổi tiếng... nhưng ông Đạt không hề khẳng định họ Nguyễn Duy Lạc Sơn có nguồn gốc Văn Thành và cũng chưa từng nhận họ.
Ông Nguyễn Duy Hiểu là cháu ruột gọi ông Đạt bằng bác nhưng viết những điều này là bịa đặt, con cháu ông Đạt không đồng ý. Ông là người có công giữ gìn lễ nghi, mồ mả tổ tiên nhưng xin đừng ghép cho ông chuyện nhận họ.
3. Về 4 đời đầu họ Nguyễn Duy Lạc Sơn và con cháu ông Nguyễn Văn Đương
Như bài "Những luận điểm" đã viết: 
Ông Nguyễn Văn Đương có các con, cháu là:
- Nguyễn Văn Đương sinh Nguyễn Thoan, tri sự.
- Nguyễn Thoan sinh Nguyễn Thế Danh, Nguyễn Thế Đức.
Tuy nhiên, sang gia phả họ Lạc Sơn do ông nguyễn Duy Tiếu chấp bút sau này ghép nối:
- Nguyễn Thoan là Nguyễn Hữu Thiện.
- Nguyễn Thế Danh là Nguyễn Hữu Nham.
- Nguyễn Thế Đức là thân sinh cụ Nguyễn Hữu Hường.
Đây là sự gán ghép cho có, không đúng. Trăm năm này con cháu Nguyễn Duy Lạc Sơn vẫn ghi cụ tổ Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Hữu Nham... chứ có ai nhắc đến họ ta từng mang Nguyễn Thế rồi Nguyễn Văn đâu.
Chưa nói chuyện tên gọi dòng họ (của Nguyễn Duy Lạc Sơn chỉ có Nguyễn Hữu, Nguyễn Duy trong khi Văn Thành qua nhiều tên đệm). Tôi khẳng định việc ghép tên 4 đời đầu họ Nguyễn Văn Thành sang Nguyễn Duy Lạc Sơn có thể là do bác Tiếu và chú Nguyễn Duy Cảnh cùng với mấy ông Văn Thành tự ý làm!

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Những luận điểm chứng minh nguồn gốc họ Nguyễn Duy Lạc Sơn không phải từ Văn Thành, Yên Thành


Nếu chúng ta nói rằng Thuận Lạc có nguồn gốc chỉ mới khoảng dưới 300 năm là không thể. Từ những đơn vị quần cư nhỏ lẻ của những người khai phá đến những thôn, ấp, làng và hình thành nên tổng là một quá trình lâu dài. Theo “Hương ước Nghệ An” (Ninh Viết Giao), người viết thấy rằng có những thôn, làng đến đầu thế kỉ XX mà vẫn chưa được nhà nước phong kiến đương thời công nhận, nghĩa là vẫn chưa có đồng triện riêng, chỉ mới có một người chăm lo việc làng mà thôi. Lịch sử của làng là lịch sử của những dòng họ. Rất tiếc là chúng ta đã để mất đi đình Thuận Lạc, để mất đi những sắc phong thần của triều đình. Vì có thể, qua những di tích còn sót lại ấy, chúng ta có thể tìm ra được những chứng tích, dù mù mờ nhưng vẫn đáng tin hơn là ngồi phỏng đoán.


Chúng ta cũng không thể vì những mục đích không tốt, vì những hư danh mà có thể gán ghép lịch sử được.


Theo bản gia phả mà bác Nguyễn Duy Tiếu biên soạn vào năm 2001 mà người viết có được, thì đến nay họ ta đã có 14 đời đến đời người viết. Đời 15 là các cháu Duy Hương, Duy Nam, Duy Dũng... con bác Tiếu và chuẩn bị có đời 16.


Thuỷ tổ họ ta – trong gia phả ghi là Nguyễn Quý Công – cho đến đời đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa là hậu duệ thứ 8 khi viết lại gia phả không biết được nên đành ghi là “ông Thiên – bà Thu” theo lời kể của bà tổ cô Nguyễn Thị Thanh.


Sau này, quá trình đi tìm lại họ đã nhận họ Nguyễn Duy tại làng Yên Phú, Văn Thành, Yên Thành, một số người đã “cố tình” gán ghép cho Đức Thuỷ Tổ của chúng ta một cái tên mới - Nguyễn Văn Đương.


Xin được điểm qua phả hệ của họ Nguyễn Duy (làng Yên Phú, Văn Thành, Yên Thành): Theo như gia phả của họ Nguyễn Duy Văn Thành thì:


Đời thứ Nhất: Viễn tổ tướng công Nguyễn Quang Thiện. Sinh năm Ất Sửu (1625), người Thịnh Mỹ, Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Thi Hương đình đỗ giải nguyên. Năm 40 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị 2 (1664), Ông làm quan đến chức giám sát ngự sử, sau làm Thừa chính sứ Nghệ An. Sinh một con trai là Nguyễn Hữu Chiêm (ghi lại theo văn bia trong nhà thờ họ Nguyễn Duy xã Văn Thành, có thể tham khảo trong cuốn Văn bia Nghệ An của PGS Ninh Viết Giao, NXB Nghệ An ấn hành năm 2000).


Trong Văn bia tại Văn miếu - Quốc tử Giám (Hà Nội), Nguyễn Quang Thiện được ghi là có quê ở Triều Khẩu, Hưng Nguyên. Vậy không rõ vì lí do gì mà ông di chuyển từ Thọ Xuân, Thanh Hoá về Nghệ An và ông là người chuyển đi hay chuyển đi từ đời trước đó. Thiển nghĩ, Nguyễn Quang Thiện phải là người được sinh ra, hay đúng hơn là cha của Nguyễn Quang Thiện phải được vào sổ làng ở Triều Khẩu, cho nên khi lai kinh ứng thí phải ghi quê là ở Triều Khẩu, Hưng Nguyên. Vấn đề gốc tích của Nguyễn Quang Thiện là chuyện của họ Nguyễn Duy Văn Thành, tôi không dám bàn thêm.


Đời thứ Hai: Nguyễn Hữu Chiêm


Ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Sinh một con trai là Thành Sơn Bá - Nguyễn Lương Thiện.


Đời thứ Ba: Thành Sơn Bá - tự Lương Thiện.

Sinh 3 con: Nguyễn Hữu Xương, Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Hữu Vượng


Đây chính là giai đoạn tạo lập họ Nguyễn Văn Thành. Ông Nguyễn Hữu Xương là con trai cả của Thành Sơn Bá, ở lại quê Hưng Nguyên, con trai thứ 2 là Nguyễn Văn Thịnh (thuỷ tổ họ Nguyễn Văn Thành) đến lập nghiệp ở Văn Thành, Yên Thành ngày nay. Con trai thứ 3 là Nguyễn Hữu Vượng, sinh năm Canh Dần, đỗ Cử nhân, di cư đến thôn Đại Độ, xã Đô Thành, Yên Thành.


Đời thứ Tư (đời thứ Nhất phái Nguyễn Duy Văn Thành)


Nguyễn Văn Thịnh – có công khai khẩn đất đai, lập làng nên được Thành Thái sắc phong: “Bản cảnh Thành hoàng, yên thổ phú dân, trung lương thịnh đức, dực bảo trung hưng, linh phù chi thần”, Khải Định (1924) gia phong: “Đôn nghi chi thần”, sinh được 3 con trai là:

-         Nguyễn Văn (Trung), đến vùng Kẻ Trang, nay là Tân Xuân, Tân Kì, Nghệ An.

-         Nguyễn Duy Nộ: ở lại Văn Thành

-         Nguyễn Văn Đương

Đời thứ Năm:

1.     Nguyễn Văn (Trung), đến vùng Kẻ Trang, nay là Tân Xuân, Tân Kì, Nghệ An.

2.     Nguyễn Duy Nộ - Nhã lượng phủ quân, sinh giờ Sửu, ngày 21 tháng 11 năm Đinh Mão (1667), ở Yên Phú, Văn Thành. Có 2 con trai là Nguyễn Duy Phùng, Nguyễn Duy Bản. Mất năm Nhâm thân 1752, thọ 66 tuổi.

3.     Nguyễn Văn Đương, trong gia phả họ Nguyễn Văn Thành được ghi là đến vùng Truông Cồn Đọi, được nhận là thuỷ tổ phái Nguyễn Thuận Lạc.

Tôi xin có đôi lời mạn đàm về cách chép gia phổ của họ Nguyễn Văn Thành và của bác Nguyễn Duy Tiếu làm tôi có nhiều hoài nghi về tính chân thực của nó:

Thứ nhất, ông Viễn tổ của họ Nguyễn Duy Văn Thành là Nguyễn Quang Thiện, đây là một nhân vật lịch sử, tên được ghi trong bia đá bảng vàng của khoa cử ngày xưa, làm đến Thừa chính sứ Nghệ An, được chép trong “Các nhà khoa bảng Việt nam” và tài liệu của Ban Quản lý di tích Văn Miếu - Quốc tử Giám (Hà nội) thì Nguyễn Quang Thiện thi đậu Đệ tam Giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Cảnh trị 2 (1664), lúc ông 40 tuổi. Như vậy điều này phù hợp với những gì tôi đã trích dẫn ở trên. Nguyễn Quang Thiện xin được khẳng định là sinh năm 1625, đỗ Tiến sĩ năm 1664, triều Cảnh Trị vua Lê Huyền Tông. Trong khi đó, theo gia phả họ Nguyễn Duy Văn Thành thì đến đời thứ 5 tính từ Nguyễn Quang Thịên, tức là đời thứ 2 tại Văn Thành, Nguyễn Duy Nộ (con trai thứ 2 của Nguyễn Văn Thịnh) được chép trong gia phả của họ Nguyễn Văn Thành là sinh năm 1687, mất 1752, thọ 66 tuổi.

Như vậy xin hỏi từ Nguyễn Quang Thiện đến Nguyễn Duy Nộ có phải qua 5 đời mà chỉ có 52 năm (1625 – 1687), đây là một nghi ngờ lớn của tôi mà hi vọng được các bậc cao niên ở Văn Thành giải đáp. Nếu như không có một lời giải thích cụ thể thì tôi có thể hoài nghi về nguồn gốc của họ Nguyễn Duy Văn Thành có phải xuất phát từ Nguyễn Quang Thiện hay không? Chưa có một công trình khảo cứu nào cho thấy ngày xưa nam thiếu niên đến mấy tuổi thì dậy thì và mấy tuổi thì có khả năng sinh dục, lấy vợ và đẻ con, nhưng theo cái kiểu qua 5 đời mà chỉ có hơn 50 năm, nghĩa là mỗi đời chỉ cách nhau 14 năm thì cái kinh nghiệm của các cụ ngày xưa: “Nữ thập tam, nam thập lục” không còn chính xác. Có thể vì các cụ đời trước kén vợ cho con từ rất sớm nên thành thục về chuyện gối chăn quá sớm, để 14 tuổi đã có khả năng sinh con đều đều như thế. Và khi đó, Nguyễn Quang Thiện mới 40 tuổi mà đã có chắt gọi bằng Cố, có thể đây là phúc của ông Tiến sĩ mà chúng ta giờ mới phát hiện. Tôi đã trao đổi điều này với ông Nguyễn Văn Mậu, Nguyễn Trí Tuệ thì được biết các ông ấy cũng rất ghi nhận điều này, sau khi có sự phản biện này, họ cũng đã sửa lại cách làm gia phả. Có thể liên hệ ông Nguyễn Văn Mậu (04.33546229) hoặc Nguyễn Trí Tuệ (ở khối 7, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, điện thoại 0903453567).

Hơn nữa, theo gia phả của họ Nguyễn - Văn Thành, em trai của Nguyễn Văn Thịnh là Nguyễn Hữu Vượng (đên ở Đô Thành, Yên Thành), sinh năm Canh dần (1650), nghĩa là thua Nguyễn Quang Thiện, là Cố nội của mình (sinh năm 1625) có 25 tuổi, có nghĩa là không phải Nguyễn Quang Thiện ngoài 40 đã có chắt mà mới 25 tuổi đã được lên chức Cố. Cũng có nghĩa là Nguyễn Quang Thiện hay Nguyễn Hữu Chiên hay Nguyễn Lương Thiện (Thành Sơn Bá) có con lúc 10 tuổi hay ít hơn nữa (4 đời mà chỉ có 25 năm mà), đây có thể là một công trình cho các nhà khoa học về sức khoẻ nghiên cứu, bởi vì mặc dù có con từ rất sớm nhưng những đứa trẻ sinh ra đều có những chiến công, thành tích sau này cả, như Nguyễn Văn Thịnh, Nguyễn Duy Nộ…

Sơ đồ phát tích họ Nguyễn Duy Văn Thành, Yên Thành, Nghệ An (nguồn: Nguyễn Duy Phổ, trưởng tộc)

Thứ 2, nếu như chúng ta cứ nhận họ Nguyễn Duy ở Thuận Lạc có ông thuỷ tổ là Nguyễn Văn Đương. Như vậy là chúng ta thừa nhận có ông Viễn tổ Nguyễn Quang Thiện đậu Tiến sĩ, có anh trai của Thuỷ tổ Nguyễn Văn Đương là Nguyễn Duy Nộ vô cùng giàu có ở đất Đông Thành.

Theo gia phả họ ta chép lại từ họ Nguyễn Duy Văn Thành: “Nguyễn Văn Đương đến vùng Truông Cồn Đọi, lập nghiệp. Sinh con là tri sự Nguyễn Thoan, Nguyễn Thoan sinh Nguyễn Thế Danh và Nguyễn Thế Đức”. Tuy nhiên trao đổi cùng ông Nguyễn Văn Mậu, ông cho biết gia phả Nguyễn Duy ở Văn Thành không có đoạn nói ông NGuyễn Văn Đương đến Truông Cồn đọi mà chỉ nói Nguyễn Văn Đương sinh Nguyễn Thoan, Nguyễn Thoan sinh Nguyễn Thế Danh, Nguyễn Thế Đức.

Bởi vì chúng ta đã nhận Nguyễn Văn Đương là thuỷ tổ, nghĩa là “Ông Thiên – Bà Thu” trong gia phổ mà Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa chép lại theo lời của Tổ cô Nguyễn Thị Thanh có tên là Nguyễn Văn Đương. Nguyễn Văn Đương sinh một con trai là Nguyễn Thoan, ghép vào họ ta là Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Thoan sinh 2 trai ghép vào họ ta là Nguyễn Hữu Nham và cụ thân sinh ra Đức tổ Nguyễn Hữu Hường.

Chưa bàn luận đến việc “gán” tên như vậy có đúng hay không mà xin nói lại về niên đại.
Theo gia phả họ ta, Đức Thuỷ tổ không rõ tên, không rõ năm sinh, mất, được ghi trong gia phả là “Ông Thiên – Bà Thu” sinh ra con trai là Nguyễn Hữu Thiện.

Đức tổ Nguyễn Hữu Thiện sinh con trai là Nguyễn Hữu Nham.

Đức tổ Nguyễn Hữu Nham sinh con trai là Nguyễn Hữu Thọ.

Đức tổ Nguyễn Hữu Thọ có 2 con trai là Nguyễn Hữu Hân và Nguyễn Hữu Hợi. Đức tổ Nguyễn Hữu Hợi đên làng cồn Khỉ (Khải Sơn) lập đệ nhị phái họ Nguyễn chúng ta.

Đức tổ Nguyễn Hữu Hân có con trai là Nguyễn Hữu Dương.

Đức tổ Nguyễn Hữu Dương có con trai là Nguyễn Hữu Thành.

Đức tổ Nguyễn Hữu Thành có con trai là Nguyễn Hữu Nghĩa.

Sơ đồ phát tích họ Nguyễn Duy, Lạc Sơn, Đô Lương, Nghệ An
Đến đời đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa mới là giai đoạn phát triển cực thịnh của họ ta. Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa, sinh năm Tân Sửu (1781), mất ngày 13 tháng 10 năm Nhâm Tý (1852), thọ 72 tuổi, Tổ mẫu là Nguyễn Thị Nhân, sinh năm Tân hợi (1791), mất năm Canh Tuất (1850) thọ 60 tuổi. Đay là những gì được ghi trong chính phả của họ ta. Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa sinh được 9 người con, có 5 con trai:

-         Nguyễn Hữu Lễ (Nguyễn Duy Chỉ): sinh năm Canh Ngọ (1810), mất giờ ngọ ngày 27 tháng 12 năm Tân Tỵ (1881), thọ 72 tuổi.

-         Nguyễn Hữu Đởn (Nguyễn Duy Đoan)

-         Nguyễn Hữu Nhỡn (Nguyễn Duy Năng)

-         Nguyễn Hữu Giá

-         Nguyễn Hữu Giảng.

Từ ông Thuỷ tổ (tạm chấp nhận là Nguyễn Văn Đương) đến Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa là 8 đời. Khi chấp nhận như thế, từ ông Nguyễn Quang Thiện đến Nguyễn Hữu Nghĩa là 12 đời.
Cứ lấy ra 3 mốc thời gian quan trọng đó là:

Nguyễn Quang Thiện, sinh năm 1625.

Nguyễn Duy Nộ, sinh năm 1687, Nguyễn Duy Nộ là anh trai của Nguyễn Văn Đương nên tôi phỏng đoán Nguyễn Văn Đương sinh năm 1690 (giả sử Nguyễn Văn Đương không phải là con chính thất, sinh trước Nguyễn Duy Nộ mà phải làm em thì ông này cũng chỉ có thể sinh trong khoảng 1680 đến 1687 mà thôi).

Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa, là tổ đời thứ 8 của họ, tính từ Thuỷ tổ, sinh năm 1781.

Như vậy, nếu thừa nhận Nguyễn Văn Đương là thuỷ tổ họ ta, đến Nguyễn Hữu Nghĩa là 8 đời thì qua 8 đời chỉ mất có hơn 90 năm, cụ thể là 91 năm (1690 – 1781), như vậy mỗi đời cách nhau cũng chỉ hơn 13 năm mà thôi. Câu hỏi nay tôi cũng đã đọc một số sách Y thuật nhưng cũng chưa có lời giải đáp. Còn nếu tính từ Nguyễn Quang Thiện đến đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa, qua 12 đời trải hết 156 năm, tính trung bình mỗi đời cách nhau 14 năm.

Nếu chúng ta công nhận cụ Nguyễn Văn Đương là ông tổ họ Nguyễn Hữu thì thấy rằng: Ông Nguyễn Quang Thiện (sinh năm 1625), là bậc kỵ của cụ Đương, thì cụ Đương phải sinh vào khoảng năm 1730, và đến Truông Cồn Đọi khi đã lập gia đình, nghĩa là đến Truông Cồn Đọi vào cỡ những năm 1760 hoặc sau hơn, nhưng giai đoạn này ở họ ta đã có Tổ Nguyễn Hữu Thoại rồi. Thật vô lý!

Trong khi đó họ ta trải từ đời đức Thuỷ tổ “Ông Thiên – Bà Thu” đên đời đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa trải qua 8 đời hầu như độc đinh. May nhờ ân đức của Tổ tiên với tình yêu thương bao la với cháu của Đức Tổ cô Nguyễn Thị Thanh nên đến đời thứ 8 họ Nguyễn Duy phái Trù Phúc mới có sự phát triển đông đúc. Đọc ở trên chúng ta cũng thấy Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa sinh con trai là Nguyễn Hữu Lễ khi Người 30 tuổi (1781 – 1810).

Nói rằng Nguyễn Văn Đương là Thuỷ tổ họ ta là công nhận họ ta qua 8 đời chỉ có hơn 90 năm, nghĩa là các bậc tiền nhân đáng tôn kính của họ ta đều có con ở độ tuổi 13, 14. Đây là một sự chấp nhận không có khoa học, có thể nói là sự gán ghép bệnh hoạn, là một sự sỉ nhục lớn đối với các bậc tiền nhân mà từ ý nghĩ của một vài người lại gieo rắc cho cả dòng tộc.

Chỉ vì trong gia phả của họ Nguyễn Duy ở Văn Thành có chép là ông Nguyễn Văn Đương của họ ấy đến Truông Cồn Đọi mà nhận là tổ tiên của mình, rồi lại có những hành xử chỉ mang tính chất cá nhân, không đưa ra trước họ đang bàn xét, thiết nghĩ đó là những kết luận vội vã, mang nặng tính cá nhân và nặng về hư danh hơn là có ý nghĩa tìm lại nguồn gốc tổ tiên. Hơn nữa, từ ông Nguyễn Văn Đương có thể không thay đổi sang Nguyễn Duy mà giữ nguyên là Nguyễn Văn thì sao, mặt khác ở vùng Truông Cồn Đọi (có thể cả vùng Đà Sơn và Lạc Sơn) còn có những họ mang tên Nguyễn Hữu và rất nhiều họ khác mang tên là Nguyễn Văn, thế thì cũng có thể họ là hậu duệ của Nguyễn Văn Thịnh lắm chứ. Do vậy, đây là một việc hệ trọng, cần xem xét kĩ càng, kể cả họ Nguyễn Duy ở Văn Thành và Lạc Sơn.

Thiết nghĩ, việc nhận cũng chỉ xuất phát từ cái danh ông Nguyễn Quang Thiện đậu Tiến sĩ  hay danh ông Nguyễn Văn Thịnh là Thuỷ tổ họ Nguyễn Duy Văn Thành được triều đình nhà Nguyễn sắc phong, nhà thờ được đón nhận “Di tích Văn hoá”. Cái danh nếu như đúng thì đáng trân trọng lắm, nhưng chỉ là “hư danh” mà phủ nhận những điều mà tổ tiên mình chưa chấp nhận. Vả lại Yên Phú với Thuận Lạc cách nhau bao xa mà các bậc tiền nhân học rộng như Can Nguyễn Duy Tước, Cố Nguyễn Duy Huệ lại không tìm về mà để lớp hậu sinh “chữ tác thành chữ tộ” phải đi tìm. Đó là chưa nói đến việc gán ghép tên cho các vị tiền nhân là một sự hỗn láo không chấp nhận được, bao đời nay, họ ta vẫn thờ Cụ Nguyễn Hữu Thiện là Nguyễn Hữu Thiện, đã có ai bảo Người là Nguyễn Thoan làm tri sự hay đậu sinh đồ đâu. Có ai nói Đức Tổ Nguyễn Hữu Nham là Nguyễn Thế Danh hay Đức Tổ Nguyễn Hữu Hường có cha là Nguyễn Thế Đức đậu Cử nhân cả. Hơn nữa, nếu Nguyễn Thế Đức đậu Cử nhân ở đất Thuận Lạc thật thì đó là một vinh dự quá lớn. Cố Hàn Đoàn đậu có tú tài mà còn được làng trọng vọng nữa là Cử nhân.

Trong quá trình tìm họ, ông Nguyễn Duy Đạt, một người rất thông thạo chữ Hán và lễ nghĩa cũng có đến Văn Thành, Thanh Chương, Hưng Dũng… tìm họ nhưng chưa bao giờ khẳng định họ ta có nguồn gốc ở Văn Thành cả. Có một số người như ông Nguyễn Duy Hiểu đã viết rằng ông Nguyễn Duy Đạt, ông Cán đã đến Văn Thành nhận họ. Đó là một sự bịa đặt! Xin đừng đem những điều không có gán cho người đã khuất, đó là một tội bất hiếu ở đời.

Xin khẳng định một lần nữa: Họ Nguyễn Duy Thuận Lạc không thể có nguồn gốc ở Yên Phú được. Còn nguồn gốc của chúng ta ở đâu phải thêm thời gian nghiên cứu. Trước hết, anh em trong dòng tộc phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Có nhiều nhà anh em ruột thịt còn tranh giành lẫn nhau, cha mẹ con cái bất hoà thì xây cái nền tảng gia đình hạnh phúc, anh em hoà mục, đồng sức đồng lòng trước đã rồi tính chuyện họ đang sau.


Viết tại Đô Lương, 2009.