Hiển thị các bài đăng có nhãn Việc họ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việc họ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Góp ý việc dùng chữ Ngọ môn

Mới rồi tôi có vào xem trang facebook của anh Nguyễn Duy Nga (anh là con trai của Nguyễn Duy Khang - là phái trưởng đệ nhị phái ở Khải Sơn) mới thấy bức ảnh này:

Nhìn vào chữ NGỌ MÔN TỪ ĐƯỜNG - HỌ NGUYỄN DUY tôi thoáng chút băn khoăn.
Ngọ môn (chữ Hán là 午門) có cách hiểu là cửa đón ánh nắng khi vuông góc với mặt đất (tức là chính ngọ), nó cũng là cửa hướng về phía Nam, là cửa chính của Hoàng thành, và quan trọng nhất là nó chỉ được sử dụng cho kinh thành của Hoàng đế.

Ảnh dưới là Ngọ môn của Hoàng thành triều Nguyễn:

Thông tin về Ngọ môn Huế như sau:

Ngọ Môn xây dựng vào năm 1833, khi vua Minh Mạng cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội.

Vì Kinh Dịch quy định ông vua bao giờ cũng quay mặt về phía Nam để cai trị thiên hạ, cho nên, ngay từ thời Gia Long (1802-1810), khi xây dựng Kinh đô Huế, các nhà kiến trúc đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị trí thế "tọa càn hướng tốn"(tây bắc-đông nam). Hướng này cũng được xem như hướng Bắc-Nam. Ðối với ngai vàng trong điện Thái Hòa được xem như vị trí trung tâm của mặt bằng tổng thể, Ngọ Môn nằm ở phía Nam của nó. Căn cứ trên la kinh (la bàn) của khoa địa lý phong thủy Ðông Phương, phía Nam thuộc hướng "ngọ" trên trục "tý-ngọ" (nghĩa là Bắc-Nam). Do đó, triều Minh Mạng đã đặt tên cho cái cổng mới xây ở chính giữa mặt trước Hoàng Thành là Ngọ Môn, thay cho tên cũ là Nam Khuyết Ðài. Chúng ta nên hiểu Ngọ Môn là cổng phía Nam với ý nghĩa mang tính không gian, chứ không nên cho rằng chữ "ngọ" ở đây mang tính thời gian là giờ "ngọ", lúc mặt trời đứng bóng giữa ngày. Thành thử không thể dịch chữ Ngọ Môn ra thành "Noon time gate" như có người đã dịch. Có hiểu đúng ý nghĩa của người xưa khi đặt tên , mới thấy rõ hơn vị trí của Ngọ Môn trong tổng thể kiến trúc Ðại Nội. Ngày xưa, cổng này thường đóng chặt quanh năm, chỉ được mở khi vua ra vào Hoàng Thành có đoàn ngự đạo đi theo, và trong những dịp tiếp kiến các sứ ngoại quốc quan trọng trong Hoàng Cung...

Tuy nhiên, Ngọ Môn không phải chỉ là một cái cổng, mà nó là cả một tổng thể kiến trúc khá phức tạp: bên trên còn có lầu Ngũ Phụng được xem như một lễ đài, dùng để tổ chức một số cuộc lễ hàng năm của triều đình, như lễ Truyền Lô (đọc tên các sĩ tử thi đỗ tiến sĩ), lễ Ban Sóc (phát lịch), lễ Duyệt Binh...và đây cũng là nơi diễn ra cuộc lễ thoái vị của vua Bảo Ðại vào ngày 30-8-1945.

Về mặt kết cấu kiến trúc, có thể chia tổng thể Ngọ Môn ra làm hai hệ thống: hệ thống nền đài ở dưới và hệ thống lầu Ngũ Phụng ở trên, mặc dù cả hai đều đã được thiết kế ăn khớp nhau một cách chặt chẽ và hài hòa với nhau từ tổng thể đến chi tiết


Như vậy, Ngọ Môn chỉ được dùng cho HOÀNG ĐẾ, cho Kinh thành chứ không nên dùng cho một nhà thờ họ. Nếu như vào thời phong kiến, thì đây là một chữ phạm thượng rất lớn.

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Góp ý về cách bảo tồn di sản.


Thời gian gần đây, báo chí nhắc nhiều đến công tác bảo tồn di tích, như ở chùa Trăm Gian (Hà Tây cũ). Xem chuyện của thiên hạ mới thấy công tác phục hồi, bảo vệ di sản của họ ta, mà cụ thể ở đây là họ Nguyễn Duy Đại tôn còn có nhiều bất cập.
Nhà thờ đại tôn vốn xây dựng năm 1903, lúc ấy chỉ có một tòa nay là thượng điện. Sau này nhờ con cháu phát tâm mới làm thêm nhà Hạ điện, tôn tạo khuôn viên. Trong nhà thượng điện nay vẫn còn lại mấy chữ ghi lại niên đại bằng nét chữ chân phương, sắc sảo.
Còn bức đại tự: ĐỨC DUY HINH được các cố họ ta làm năm Bảo Đại, đôi câu đối làm năm Giáp Tý niên hiệu Khải Định (1925). Đây là hai di sản còn lại cùng với các đồ tế khí, long ngai...
Năm 2011, họ ta tổ chức tu chỉnh lại một số đồ tế khí, đây là một việc đáng mừng nhưng lại buồn thay vì việc làm không có tham khảo ý kiến của các chuyên gia bảo tồn. Vốn các đại tự, câu đối ngày xưa làm bằng gỗ, sơn son, thếp vàng. Sơn thì sử dụng sơn ta và các nét chữ thường sắc sảo. Tuy nhiên, quá trình phục hồi lại làm theo kiểu làm mới (như ảnh), các chữ được sơn lại bằng sơn vàng, nền quét sơn đen bằng sơn hiện đại, trong khi nhiều chi tiết như nét chữ lạc khoản, cuốn thư, các chi tiết mỹ thuật lại được phủ trùm cũng bằng sơn vàng, hầu như các chữ lạc khoản không còn rõ, khó đọc, toàn bộ câu đối, đại tự được sơn phủ bóng loáng, không đúng với nguyên gốc.
Việc bảo tồn di tích cần phải tuân thủ theo giá trị gốc của di sản. Một nhà thờ, những đồ tế khí, câu đối... hơn 100 năm không thể vì có tiền mà có thể phá ra dựng lại, thế thì không còn hồn cốt của những giá trị cha ông để lại nữa. Nếu ai cũng làm như thế thì có thể giờ này khu lưu niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nam Đàn cũng biến thành nhà ngói cao sang.
Họ Nguyễn Duy đại tôn đang lên kế hoạch sửa sang nhà thờ, nhưng hiện đang tạm dừng có không có kinh phí. Hi vọng một khi công trình được triển khai sẽ tham khảo ý kiến đồng tộc, đưa ra phương án thích hợp để cho nhà thờ họ ta đi cùng con cháu, mang những tâm huyết của ông cha và răn dạy con cháu về những gì tiền nhân để lại.

Vinh thành, lập đông Nhâm Thìn.