Hiển thị các bài đăng có nhãn Trưởng phái Nguyễn Duy thôn Trù Phúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trưởng phái Nguyễn Duy thôn Trù Phúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

Bản dịch Gia phả họ Nguyễn giáp Trù Phúc, thôn Thuận Lạc, xã Trường Mỹ của cố cửu Phương


NGUYỄN TỘC GIA PHẢ

Họ ta từ trước đến nay có tên là Nguyễn Hữu, đến triều Nguyễn niên hiệu Minh Mệnh, hiển tổ khảo giữ chức lý trưởng tên húy vẫn là Nguyễn Hữu nhưng tên tự là Nguyễn Duy. Từ đó trong họ ta, người thì Nguyễn Hữu, người thì Nguyễn Duy “tùy nghi bất nhất”.
(Họ ta ở tại) giáp Trù Phúc, thôn Thuận Lạc, xã Trường Mỹ, tổng Thuần Trung, huyện Lương Sơn, phủ Anh Sơn. Bản gia phả này do Nguyễn tộc thứ tôn Nguyễn Duy Trứ phụng ghi với suy nghĩ: trên thế gian này người ta sinh ra do tổ, nước thì có sử, họ thì có gia phả. Gia phả này ghi chép vào giấy từng khoản một: danh tính, thế thứ, mộ phần, niệm húy kị (kể cả tảo sa, tảo lạc) thật phân minh, rõ ràng để được vĩnh tồn, để con cháu sau này dễ bề khảo đính, chiếu chứng.
(Đời 1). Nguyễn gia thái thủy (thỉ) tổ khảo tỉ thần vị.
          (阮家太始祖考妣神位)
(Đời 2). Tiên tổ khảo Nguyễn quý công tự “ông Thiên” phủ quân
          (先祖考阮貴公公字翁千府君)
Tiên tổ tỉ Nguyễn chính thất hiệu “bà Thiên” nhũ nhân.
(先祖姒阮正室字婆千孺人)
(Đời 3). Tiên tổ Nguyễn Quý Công hiệu “Ông Thu – bà Thu”,
(先祖姒阮阮貴公號翁秋婆秋)
Kỵ ngày 6 tháng 6.
(Đời 4). Tiên tổ tiền bản phủ, Hiệu sinh, Sinh đồ Nguyễn Quý Công tự Thiện tính tiên sinh
(先祖前本府校生生徒阮貴公字善性仙生)
          Ngày 20 tháng 8 cả họ ta cùng làm giỗ.
Tiên tổ Tiền bản phủ hiệu sinh sinh đồ Nguyễn Chính thất nhũ nhân, tự Từ Trinh.
(Đời 5). Tiên tổ Tiền lưu quận Nguyễn Quý Công tự Hữu Nham phủ quân.
          (先祖前留郡阮貴公字有岩府君)
Tổ tỉ Nguyễn chính thất nhũ nhân.
(Đời 6). Tiên tổ tiền chấp khoán kiêm hương lão húy Hữu Thọ thụy Duy Trường phủ quân.
          (先祖前執券兼鄉老諱有壽謚幃長府君)
Lễ kị ngày 6 tháng 9.
Tiên tổ tỷ tiền chấp khoan kiêm hương lão Hoàng thị hạng nhị hiệu Từ Thuận nhũ nhân.
          Kỵ ngày 4 tháng 2.
(Đời 7). Tiên tổ Tiền chấp khoán kiêm hương lão Nguyễn Quý Công húy Hữu Hân, thụy Tư Trực Chân Tính phủ quân.
          (先祖前執券兼鄉老阮貴公諱有欣謚貲直真性府君)
          Tiên tổ khảo hưởng thọ 74 tuổi, kị ngày 6 tháng 8.
Tiên tổ Tỉ Tiền Chấp khoán kiêm hương lão Nguyễn Chính Thất Trần Thị hạng nhị húy Thị Dờu, thụy Từ Nhân nhũ nhân.
          Thọ 49 tuổi, kị ngày 9 tháng 10.
(Đời 8). Cao Cao tổ khảo Tiền lưu quận kiêm Hương trung kỳ lão Nguyễn Quý Công tự Hữu Dương,thụy Đôn Phác Thận Trực phủ quân.
          (高高祖考前留郡兼鄉中耆老阮貴公字有楊謚敦撲慎直府君)
          Kỵ ngày 13 tháng 7. Mộ tại nghĩa trang dòng họ.
Cao cao tổ tỉ Tiền lưu quận kiêm Hương trung kỳ lão Nguyễn Chính Thất Trần Thị hạng nhất húy Thị Sính, hiệu Từ Phối nhũ nhân.
Lễ kị ngày 25 tháng 10, mộ đã cát táng về nghĩa trang họ.
Cao cao tổ sinh hạ: Con trai là Nguyễn Hữu Thành tức là Cao tổ khảo, con gái 5 người: Nguyễn Thị Biểu, Nguyễn Thị Tần, Nguyễn Thị Tại, Nguyễn Thị Viên, Nguyễn Thị Bàn.
(Đời 9). Cao tổ khảo Tiền thập lý hầu Nguyễn Lệnh Công húy Hữu Thoại, tự Hữu (Giản) Thành thụy Liêm trực phủ quân chi Linh.
          (高祖考阮令公諱有話字有減成謚廉直府君之靈).
          Kỵ ngày 14 tháng 8 kiêm giỗ anh Nguyễn Hữu Huynh (Nguyễn Hữu Đỏ), mộ đã cát táng tại nghĩa trang dòng họ.
(Cao tổ tỉ cải giá lấy người họ Nguyễn Văn trong thôn, có con là Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Văn Tài, bà mất ngày 5 tháng 11).
Cao tổ khảo sinh hạ: Nguyễn Hữu Ngoạn tức là Hiển tằng tổ khảo, còn người con gái là Nguyễn Thị Do gả người trong thôn.

(Đời 10). Hiển tằng tổ khảo tiền thập lí hầu kiêm trùm ấp vị hương nguyên tức bản xã lý trưởng khâm mông ân tứ lão nhiêu Nguyễn Quý công húy Hữu Ngoạn, tự Duy Nghĩa, thụy Thuần Mỹ phủ quân chi linh.
Hiển tằng tổ khảo sinh năm Nhâm Tý (1792), thọ 72 tuổi, mất năm Quý Hợi (1863).
Mất ngày 14 tháng 10. Mộ đã cát táng và quy tập vào nghĩa trang dòng tộc.
Hiển tằng tổ tỉ thập lý hầu kiêm trùm ấp vị hương nguyên tức bản xã lý trưởng khâm mông ân tứ lão nhiêu Nguyễn Chính Thất Nguyễn Thị hạng nhất hiệu Từ Ôn Tự Phúc nhũ nhân chi linh.
Tằng tổ tỉ sinh năm Tân Hợi (1791), là con gái của Hiệu sinh đồ họ Nguyễn trong làng. Tằng tổ tỉ hưởng thọ trên 60 tuổi.
          Mất ngày 21 tháng 5. Mộ tại nghĩa trang dòng họ.
Tằng tổ khảo tỉ sinh hạ:
- Trưởng nam: Nguyễn Hữu Lễ, tự Duy Chỉ: là hiển khảo (ông nội – tức là ông nội của cố cửu Phương – ND).
- Con gái: Nguyễn Thị Nhưng, chỉ sinh con gái là Nguyễn Thị Hảo.
- Con trai: Nguyễn Hữu Đởn, tự là Duy Đoan.
Hiển khảo Nguyễn Duy Đoan sinh hạ: Nguyễn Duy Thượng, Nguyễn Duy Thiệm, Nguyễn Duy Vượng,
- Con gái Nguyễn Thị Nhuần gả cho người trong thôn là tri xã Trần Doãn Mông sinh hạ Trần Quang Dưỡng, Trần Quang Phiên.
- Con trai: Nguyễn Hữu Nhỡn, tự Duy Năng, sinh hạ con trai là Nguyễn Duy Lực, Nguyễn Duy Bài, Nguyễn Duy Tịch; vợ là Nguyễn Thị Nghi người trong thôn.
- Con gái: Nguyễn Thị Giản Luyện (Nguyễn Thị Dớn), gả cho người trong thôn là trùm xã kiêm trùm ấp Đinh Văn Nhân, sinh con Đinh Văn Đôn.
- Con trai Nguyễn Hữu Giá, tử trận.
- Con gái: Nguyễn Thị Giám gả người trong thôn là sinh đồ Nguyễn Trí Thái, sinh con trai là Nguyễn Văn Thuận.
- Con trai út: Nguyễn Hữu Giảng, sinh con trai là Nguyễn Duy Luận, Nguyễn Duy Bình; vợ là Đinh Thị Thắng.
(Đời 11). Hiển tằng tổ khảo tiền thập lý hầu kiêm Bản xã tư văn, bản xã tri xã, thăng thụ tổng hào niên tấn giới thọ kỳ lão Nguyễn Quý Công húy Hữu Lễ, thụy Kỳ Hậu phủ quân chi Linh.
Hiển tằng tổ khảo hưởng thọ 71 tuổi, mất trưa ngày 27 tháng 12. Mộ hiện đã cát táng trong khuôn viên nghĩa trang họ Nguyễn.
Hiển tằng tổ tỷ tiền Thập lý hầu kiêm bản xã tư văn, bản xã tri xã thăng tổng thụ hào niên tấn giới thọ kỳ lão, Nguyễn môn chính thất Nguyễn Thị hạng nhất húy Thị Cẩm, hiệu Từ Thục nhũ nhân chi linh. Hiển tằng tổ tỷ hưởng thọ 70 tuổi.
Tằng tổ tỉ mất ngày 26 tháng 12 năm Tân Tỵ (1881).
Hiển tổ khảo tỷ sinh hạ:
- Con gái: Nguyễn Thị Điểm gả cho người trong làng là bản tổng sinh đồ Trần Doãn Trạch, sinh hạ con trai là Trần Doãn Nguyên.
- Trưởng nam: Nguyễn Duy Tước, tức hiển khảo (tức là cha của người viết – cố cửu Phương – ND).
Mất ngày 18 tháng Giêng.
- Con gái: Nguyễn Thị Cẩm gả cho ông Nguyễn Văn Trị, làm phó lý người Phượng Kỷ, sinh con là Nguyễn Văn Hào, Nguyễn Văn Phú.
- Con trai: Nguyễn Duy Cáp, lấy vợ trong làng là Đinh Thị Lý, sinh con trai là Nguyễn Duy Choai, Nguyễn Duy Ngoại, Nguyễn Duy Côn, Nguyễn  Duy Phan, Nguyễn Duy Tồn, con gái Nguyễn Thị Bản, Nguyễn Thị Yêm.
- Con gái: Nguyễn Thị Diệm, gả cho ông Trần Doãn Hoàn người trong thôn sinh con là Trần Doãn Ánh, Trần Doãn Tình.
- Con gái út: Nguyễn Thị Kiểm, mất sớm.
(Đời 12). Hiển khảo tiền thí sinh thăng thụ bản tổng tổng hiệu, bản xã cai xã, bản thôn tư văn sĩ hội hội trưởng, tề hương lão ưu bàn Nguyễn Quý Công húy Duy Tước, tự Lương Quý, thụy Thuần Chinh phủ quân chi linh.
Hiển khảo sinh năm Giáp Thìn (1844), hưởng thọ 65 tuổi, mất ngày 18 tháng Giêng năm Mậu Thân (1908).
Hiển tỷ tiền thí sinh thăng thụ bản tổng tổng hiệu, bản xã cai xã, bản thôn tư văn sĩ hội hội trưởng, tề hương lão ưu bàn Nguyễn chính thất Đinh thị hạng tứ hiệu Khiết Thận nhũ nhân chi Linh.
Hiển tỷ sinh năm Tân Mão (1831), hưởng thọ 85 tuổi, húy Thị Quý, mất giờ Tuất, ngày 27 tháng 8.
          Mộ tại nghĩa trang dòng tộc.
Hiển khảo tỉ sinh hạ:
- Trưởng nam Nguyễn Duy Quỹ, vợ đầu là Nguyễn Thị Nhàn, người làng Trùng Quang sinh hạ 2 gái là Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Thị Toại mất sớm. Vợ kế là người Văn Tràng, sinh con trai là Nguyễn Duy Xin, tức là cháu nối dòng vậy.
- Con trai: Nguyễn Duy Huệ, vợ đầu là Đặng Thị Đích, người trong thôn, mất sớm. Vợ kế là Nguyễn Thị Cầu người làng Trung Hậu, sinh hạ: Nguyễn Duy Mân, Nguyễn Duy Đạt, Nguyễn Duy Nhựu; con gái là Nguyễn Thị Song, Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thị Đoan.
- Con gái: Nguyễn Thị Thự, lấy chồng là ông cửu phẩm Đặng Quang Sính, sinh hạ con là Đặng Quang Đam, Đặng Quang Cảnh.
- Con gái: Nguyễn Thị Sơ, lấy chồng người trong làng là Trần Đình Phát.
- Con trai: Nguyễn Duy Tự, lấy vợ là Nguyễn Thị Lai người làng Trùng Quang, sinh hạ Nguyễn Duy Diên, Nguyễn Duy Biên, con gái là Nguyễn Thị Mơn (mất sớm), Nguyễn Thị Thơn, Nguyễn Thị Phớc và Nguyễn Thị Em.
- Con trai: Nguyễn Duy Trự, lấy vợ là Đặng Thị Đích người trong thôn sinh hạ: Nguyễn Duy Tuân, Nguyễn Duy Phổ, Nguyễn Duy Vận; con gái là Nguyễn Thị Vởn, Nguyễn Thị Viễn, Nguyễn Thị Hườn.
- Con gái: Nguyễn Thị Nhự, gả cho ông Hoàng Đăng Đường người trong thôn, sinh hạ con trai là Hoàng Đăng Mi.
- Con út: Nguyễn Duy Trứ (người viết bản gia phả này), lấy vợ đầu là Trần Thị Thụ người trong thôn sinh hai con trai, bà kế là Nguyễn Thị My người trong thôn sinh hạ 4 trai, 1 gái. 

Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

Kể chuyện vị nhạc phụ, nhạc mẫu được thờ tại nhà thờ đại tôn


Đó là nhạc phụ, nhạc mẫu của đức tổ Nguyễn Hữu Ngoạn, tức Nguyễn Duy Nghĩa.
Hẳn chúng ta ai cũng biết đến câu chuyện 8 đời độc đinh của dòng họ. Đến đời thứ 7, đức tổ Nguyễn Hữu Thoại có thầy học ở bên Cát Ngạn, ngày rằm tháng Tám đi tết thầy chẳng may chìm đò mà chết đuối. Dòng dõ họ Nguyễn Duy Trù Phúc chỉ còn lại mỗi cậu bé Nguyễn Hữu Nghĩa tầm 7, 8 tuổi. May mắn có o Nguyễn Thị Thanh (húy Thị Biểu) xin nhà chồng về nuôi cháu. Nguyễn Hữu Nghĩa lớn lên, thi đậu tam trường, làm trùm ấp, lí trưởng xã Tràng Bộc 10 năm.
Đức tổ Nguyễn Hữu Nghĩa, đời thứ 8, sinh năm 1792 - mất ngày 14 tháng 10 năm 1863, thọ 72 tuổi.
Tổ mẫu là Nguyễn Thị Nhân, sinh năm 1791, mất ngày 20 tháng 5 năm 1850 - thọ 60 tuổi. Tổ mẫu là con gái họ Nguyễn Trí trong thôn, ông bà sinh được 8 người con (3 gái, 5 trai), các con gái lấy về trong thôn Cảnh Minh và trong làng, các con trai thì theo đường học hành, cũng có người làm nông nghiệp, người đi lính cho triều đình và tử trận (can Nguyễn Hữu Giá).
Ông bà nhạc của đức tổ Nguyễn Hữu Ngoạn không có con trai nối dòng, nên khi qua đời được con rể là Nguyễn Hữu Ngoạn lo vẹn toàn chuyện hậu sự, thờ cúng nghiêm chỉnh như cha mẹ ruột của mình và dặn dò con cháu đời sau cũng phải phụng thờ.
Do vậy , trong bài văn cúng của họ ta mới có đoạn:
NGOẠI ĐƯỜNG TIỀN BẢN PHỦ, HIỆU SINH SINH ĐỒ NGUYỄN QUÝ CÔNG TỰ NHƯ CHƯƠNG, THỊ MINH MẪN.
Phần mộ của ông bà nhạc của đức tổ ta nay không rõ ở đâu, nhưng đây cũng là câu chuyện hiếm gặp về tình cảm giữa con rể và cha mẹ vợ!
Đáng trân trọng lắm thay!

Vinh thành, đầu hạ 2013.

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Vài hình ảnh nhà thờ họ Tết Kỉ Tỵ (2013)


Hạ đường: hoành phi 3 chữ PHÚC MÃN ĐƯỜNG do anh Nguyễn Duy Trình, nghiên cứu sinh tại Trung Hoa cung tiến.

Gian thờ bên phải.

Gian thờ chính.

Gian thờ bên trái.
 
Câu đối 



Linh vị











Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Về miền Cát Ngạn

Dân ta xưa nay vẫn nói: Trai Cát Ngạn, Gái Đô Lương.


Sông Lam


Chỉ một con sông Lam ngăn cách giữa hai miền Thanh Chương, Đô Lương: bên ni là núi Già với ngôi đền Thánh giáng, bên kia là Cát Ngạn với ngôi đền Trúc linh thiêng, bãi ngô xanh mướt một màu với tiếng chuông nhà thờ xứ Bột Đà. Mùa hè, dọc bờ sông rộn rã tiếng chim. 

Mảnh đất Cát Ngạn (Thanh Chương) còn gắn với họ ta với một câu chuyện bi thương cách đây hơn 200 năm rồi.

Họ ta khi ấy neo người lắm, trải qua mấy trăm năm vẫn cứ mãi độc đinh. Đến đời ông tổ Nguyễn Hữu Thoại có con trai là Nguyễn Hữu Thành khi đã ngoài 40 tuổi. Em gái của tổ Thoại tên là Nguyễn Thị Thanh. Tổ ta có đi thọ giáo với thầy đồ bên kia sông, ở Cát Văn bây giờ.

Không rõ chuyện thi cử của tổ như thế nào, nhưng lễ nghĩa sư môn nên các ngày lễ tổ Thoại ta vẫn đi đò qua sông, sang Cát Văn. 

Ngày rằm tháng Tám (khoảng năm 1785), nhân lễ Trung Thu, tổ lại đi đò sang Cát Văn, nhưng khi về qua đò chẳng may đò lật, tổ ta mệnh đoản, mất đi khi con trai mới 5, 6 tuổi, nhà lại neo người.

Tổ mất, tổ bà tái giá sang họ Nguyễn Văn bên cạnh (họ ta và họ Nguyễn Văn của bác Phan ở một chi nào đó chắc chắn là chung huyết thống - cùng mẹ khác cha), từ đó mới có chuyện tổ cô Nguyễn Thị Thanh về nuôi cháu, đọc lại cho cháu chép gia phả dòng họ...

Tương truyền rằng khi ấy neo người, dân Cát Văn chôn cất tổ ta ở bên sông, sau này vẫn còn mộ, là một cái gò lớn, không ai dám bước qua cũng như trồng trọt gì.

Khi nhỏ, tôi có hỏi bà tôi về mộ tổ, bà nói sau này có chuyển về Lạc Sơn, nhưng bà là dâu cũng nghe kể lại nên cũng không biết thực hư.

Tôi cũng nghe dượng tôi, vốn là dân Cát Văn nói khi dượng còn nhỏ vẫn còn nghe nói mộ. 

Sau này, có một số người tôi quen, họ kể rằng có dạo chính quyền đổi tuyến đường xuống bến đò Già, tuyến đi qua ngôi mộ nhưng rồi không ai dám đi, ngôi mộ vẫn nguyên ở đó.

Tôi định một ngày nào đo về Cát Văn, tìm các cụ cao niên để hỏi. Định là thế nhưng chưa làm được, mà người già thì cứ ra đi theo năm tháng.

Tôi hi vọng, nếu như mộ của tổ ta vẫn đang còn bên Cát Ngạn, con cháu sẽ xây cất lại, cho đỡ tủi người đã khuất. Hoặc nếu các bậc tiền nhân đã đưa di cốt về (nay vẫn có mộ ở nghĩa trang họ nhưng tôi nghe nói là mộ gió) thì đó là điều quý báu.

Vinh thành, tiết Xuân, Quý Tỵ niên

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Quang cảnh nghĩa trang phái trưởng






Phần mộ "Ông Thiên - bà Thu"

Phần mộ đức tổ Nguyễn Hữu Thiện
(để phù hợp với gia phả họ Nguyễn Duy Văn Thành thì đức tổ có tên mới là Nguyễn Hữu Thoan)

Phần mộ đức tổ Nguyễn Hữu Nham


Phần mộ của Cố Nguyễn Duy Huệ (1863-1933)

Khung cảnh nhà thờ Nguyễn tộc phái trưởng

Xin giới thiệu một vài hình ảnh chụp quang cảnh nhà thờ phái trưởng tại thôn Trù Phúc, xã Lạc Sơn, huyện Đô Lương:





Chữ trên câu đối (vế 1): KIỀN CHI HẬU KÝ NHÂN CƠ  TRẠCH

Chữ trên câu đối: THẾ ĐẠI PHONG BỒI ĐỨC THỤ HOA




Am thờ tổ cô Nguyễn Thị Thanh